Những lợi ích của tập thiền dưới ánh sáng của khoa học về bộ năo

 

Từ nửa cuối thế kỷ XX trở lại đây, có nhiều người trong giới tu hành Phật giáo hướng đến các khoa học về con người, đặc biệt là khoa học về thần kinh năo bộ để t́m trong đó những cơ sở thực chứng khách quan của con đường rèn luyện nội tâm. Những phát triển mới trong nghiên cứu khoa học về bộ năo và nhất là các kỹ thuật đo lường và chụp ảnh những hoạt động của năo cho phép một số nhà tu hành đặt ḿnh vào vị trí đối tượng nghiên cứu của khoa học thần kinh.

Chúng tôi có duyên được gặp Thiền sư Thích Thông Triệt, thiền chủ Thiền viện Tánh không (Hoa Kỳ) nhân dịp ông qua Pháp giảng dậy. Thiền sư Thích Thông Triệt là người đă rất nhiều năm đeo đuổi ước vọng dùng các hiểu biết khoa học để soi sáng quá tŕnh tu tập. Thiền sư là soạn giả cuốn sách « Thiền dưới ánh sáng khoa học », ấn hành năm 2010 (sách được dịch qua Pháp ngữ với tựa đề "Zen sous l'éclairage de la science" và Anh ngữ "Zen in the light of science”).Cuốn sách này mô tả lại các thực nghiệm với các máy đo điện năo đồ và cộng hưởng từ, mà các nhà năo học thuộc trường đại học Tubingen (Đức) tiến hành trong ṿng 5 năm (2006-2010) trên đối tượng là bản thân Thiền sư và các Thiền sinh theo học kỹ thuật Thiền Tánh Không.

 

Dưới đây l à toàn bộ cuộc nói chuyện với Thiền sư Thích Thông Triệt

Trọng Thành RFI/

 

 

 

Image Detail

 

 

 

Trước khi ông lên máy bay trở về Hoa Kỳ, chúng tôi có dịp được gặp Thiền sư Thích Thông Triệt tại thiền đường Hội thiền Tánh không Paris (Association Méditation Sùnyatà).

Sau đây là những lời giải thích mà Thiền sư đă dành cho chúng tôi về chủ đề này.

 

RFI : Xin kính chào Thiền sư. Hôm nay có dịp được Thiền sư cho phép gặp mặt và nhận lời nói chuyện với Đài, và qua Đài chuyển tiếng nói đến những thính giả, những người Việt Nam, hoặc những người nghe và hiểu tiếng Việt, để biết được con đường tu hành của đạo Phật dưới sự soi sáng của khoa học thần kinh hiện đại. Cụ thể là tu tập theo pháp môn « Thiền » và những tác động của nó đến đời sống hàng ngày của ḿnh, và để nó giúp ḿnh giải quyết các vấn đề khó khăn, mà nhiều người tự bản thân c̣n lúng túng chưa biết giải quyết ra sao trước những trở ngại tinh thần, tâm lư, sức khỏe bệnh tật. Theo Thiền sư, pháp môn Thiền có thể đem lại những ǵ cho những người b́nh thường bị rơi vào trạng thái như vậy ?

Thiền sư Thích Thông Triệt : Trước hết, chúng tôi cám ơn anh Trọng Thành, đại diện cho Đài phát thanh Quốc tế Pháp đặt câu hỏi. Chúng tôi xin trả lời rằng, Thiền là do Đức Phật Thích Ca, Ngài đă tự tu và tự ḿnh kinh nghiệm được những ǵ mà Ngài đă khắc khoải trước đó. Sau đó, Ngài đă thành tựu. Ngài dạy lại, và pháp môn Ngài dạy lại đó thực sự là pháp môn tu Thiền. Mà Thiền của Đức Phật nhắm làm sao giúp con người điều chỉnh lại nhận thức của ḿnh. V́ chính nhận thức đó đưa đến cho con người khổ năo, trầm luân, hay là giải thoát.

Thành ra, khi hướng dẫn người thực hành Thiền, chúng tôi nhắm khai triển những phần nào mà làm cho con người được hài ḥa thân tâm của ḿnh, và phát huy được trí tuệ tâm linh của chính ḿnh. Cho nên phần đó, chúng tôi thường dẫn chứng bằng « Pháp » mà Đức Phật đă thành tựu được. Đó là pháp thở. Từ nơi pháp thở đó, chúng ta có khả năng điều chỉnh lại được sự rối loạn bên trong năo bộ của chúng ta. Phần đó sẽ được giải thích hơn, nếu mà người đọc có nhu cầu.

 

T́m ra cơ chế để « vọng tưởng » không xuất hiện

 

RFI : Thưa Thiền sư, Thiền sư có thể giải thích v́ sao Thiền sư đă đi t́m những cơ sở khoa học và đặc biệt là cơ sở về bộ năo con người để mà phối hợp với các biện pháp trong đạo Phật, do Phật truyền lại ? V́ sao Thiền sư quyết định làm như vậy ?

Thiền sư Thích Thông Triệt : Điều này nói ra nó hơi dài. Nhưng nếu mà em muốn nghe, th́ chúng tôi sẽ nói ra. Ngày nay, Thiền thật sự là một môn tu cũ rồi, nhưng mà nó lại trở nên mới. Lư do là, Thiền đă có trên thế gian này hơn 2.500 năm rồi. Tức là sau khi Đức Phật thành đạo, bằng Thiền. Ngài dạy lại các phương pháp của ngài cũng bằng Thiền.

Nhưng mà v́ nó khó quá, nên người này chế ra phương pháp này, người kia chế ra phương pháp kia. Mục đích để làm cho tâm ḿnh nó yên lặng thôi. Thành ra, những cái chế đó ấy, các sáng tạo, sáng chế đó làm cho Thiền càng thêm rối bời thêm ra. Mỗi người làm theo ư ḿnh, rốt cuộc nó loạn ra. Có cả triệu (phương pháp), chứ không phải ngàn đâu. Trải qua 25 thế kỷ rồi, người thực hành Thiền rất khó khăn. Đứng trước rừng Thiền, một cánh rừng già dày đặc, muốn vô làm sao vô đây.

Chính bản thân tôi ngày xưa cũng vậy đấy. Chúng tôi đă thất bại khi áp dụng các phương pháp cũ. Đó là người ta giảng sao ḿnh làm theo vậy. Nhưng rồi, có điều bật ra từ trong năo chúng tôi, chúng tôi tự giải đáp trong năo ḿnh. Tức là đừng có « nói thầm » ! Nói thầm hoài th́ « vọng tưởng » có hoài. V́ chủ trương của Thiền là dập tắt vọng tưởng, tức là những ư nghĩ miên man trong đầu khởi lên lên. Người này chế ra cách này, người kia chế ra cách kia để dập tắt vọng tưởng. Chúng tôi làm đủ hết mọi cách, nhưng không làm sao dừng được những sự « nói thầm » trong đầu của chúng tôi. Thực sự lúc đó, chúng tôi không biết đó là sự « nói thầm », chúng tôi cho rằng, đó là « vọng tưởng » thôi. Nhưng rút cục chúng tôi nhận ra rằng : A ! Cái gọi là « vọng tưởng » chính là sự « nói thầm » trong năo ḿnh đó. Bây giờ phải làm sao cho yên lặng cái đó đi th́ mới được. Từ đó chúng tôi thực tập bằng cách không nói thầm.

 

RFI : Xin cắt ngang ở đây để Thiền sư giúp giải thích : « nói thầm » th́ những biểu hiện ra sao, và tác hại của nó như thế nào ?

Thiền sư Thích Thông Triệt : Khi nói thầm, đó là cơ chế của « tưởng ». Trong năo bộ của ḿnh, nó có một cơ chế … Nhưng hồi đó, chúng tôi không biết cơ chế năo bộ. Từ trong đầu nó khởi lên cái « niệm ». Nói qua nói lại với nhau. Tức là ḿnh nói qua nói lại với ḿnh về một chuyện ǵ đó do những h́nh ảnh trong tâm ḿnh khởi lên. Ḿnh chạy theo h́nh ảnh đó để ḿnh nói, nói rồi, tâm xúc cảm ḿnh nó đi theo h́nh ảnh đó. Thành ra nội tâm không bao giờ yên lặng được.

 

RFI : Cái nói thầm như Thiền sư nói có thể chuyển sang diễn đạt khác là đối thoại bên trong có đúng không ?

Thiền sư Thích Thông Triệt : Đúng rồi, từ chỗ nói thầm ban đầu, rồi đối thoại thầm lặng bên trong không bao giờ dứt. Thành ra, từ chuyện không có ǵ hết bắt đầu ḿnh vẽ ra, ḿnh sợ hăi, ḿnh phiền muộn, ḿnh giận tức luôn nữa. Nhiều khi « nó » xúi ḿnh giết người ta đi, hay làm những chuyện tầm bậy, tầm bạ. V́ sự đối thoại thầm lặng đó đấy. Khi chúng tôi phát hiện lối đó, chúng tôi áp dụng cách không nói thầm

 

Kinh nghiệm tu tập trong trại cải tạo

 

RFI : Thiền sư phát hiện điều này vào thời điểm nào và có phải là trước khi Thiền sư bước vào nghiên cứu năo đồ và các cấu trúc năo liên quan đến quá tŕnh Thiền ?

Thiền sư Thích Thông Triệt : Đúng rồi, lúc đó là vào năm 1982, khi tôi ở ngoài Bắc, tại trại Thanh Liệt. Chúng tôi phát hiện được rằng : Ồ, cái « niệm » (hay vọng tưởng) mà ḿnh muốn dừng lại đó chính là từ sự nói thầm, khi dừng sự nói thầm th́ cái niệm dừng, cái vọng tưởng dừng. Từ đó chúng tôi hiểu rằng không nói thầm th́ dẹp tan các vọng tưởng. Từ đó chúng tôi trở nên an tịnh nội tâm được. Từ đó chúng tôi dụng công tu.

Hai năm đầu, từ năm 1975 đến năm 1977, chúng tôi « được » người ta nói là già 80 tuổi, thực sự lúc đó chúng tôi chỉ hơn 40 tuổi thôi. Chúng tôi không biết sao ḿnh già mà mới có hai năm thôi. Rồi, chúng tôi tiếp tục riết cho tới năm 1982, khi chúng tôi ra miền Bắc. Th́ chúng tôi nhận ra rằng : sự đối thoại thầm lặng hay sự nói thầm trong năo của chúng tôi nó đưa đến thân tâm tàn tạ.

 

RFI : Lúc đó, có thể nói là Thiền sư đang ở trong trại cải tạo. Phải chăng điều kiện khắc nghiệt và khổ sở, cô lập trong trại như vậy khiến Thiền sư rơi vào trạng thái này ?

Thiền sư Thích Thông Triệt : Không phải, lúc đó chúng tôi ở trong trại cải tạo như vậy, nhưng lúc đó nó là điều kiện thích hợp cho việc tu hành của chúng tôi, v́ chúng tôi đâu có tiếp xúc với bên ngoài nữa. Đó là một điều kiện thuận lợi cho việc tu Thiền của ḿnh thôi. Tu Thiền là để dừng vọng tưởng, nhưng lúc đó tôi không biết đấy là ǵ. Khi mà tôi nhận ra được vọng tưởng là sự nói thầm, điểm mấu chốt, th́ chúng tôi thực hành để làm sao làm chủ được sự nói thầm đó. Cho nên chúng tôi nói rằng, cái mà Thiền tông gọi là « diệt vọng » th́ không đúng, mà ḿnh phải làm chủ vọng tưởng mới được.

Từ khi chúng tôi áp dụng cách không nói thầm trong năo, th́ trở nên một cậu thanh niên đẹp, trẻ, mà không phải là ông già 80 nữa. Bằng chứng là khi ông cán bộ đưa chúng tôi về Hà Tây, th́ chúng tôi thấy rằng, những người kia như những con khỉ già, hốc hác. Ông cán bộ nói rằng, trong số các anh đây, anh này này ở đây lâu mà sao lại hồng hào. Nghe như thế, chúng tôi nói, à, như thế, chúng tôi thực hành đúng rồi đó. Đúng như thế nào, cái « nước » ǵ giúp cho tôi, th́ thực sự chưa biết được. Nhưng chúng tôi nghĩ rằng, phải có cái chất ǵ, cái « nước » ǵ trong đầu chúng tôi tiết ra đó để làm cho tôi được trẻ, trong sáng. Đấy là cái ư tưởng đầu tiên nó ghi trong đầu tôi là như thế.

 

Hiểu biết khoa học về năo giúp cho thời gian tu tập được rút ngắn

 

RFI : Như thế là, bắt đầu từ cái kinh nghiệm đầu tiên mà Thiền sư cảm nhận được vào thời điểm năm 1982, đấy là khởi điểm mà Thiền sư tiếp tục đi về hướng nghiên cứu về quan hệ giữa bộ năo và quá tŕnh Thiền. Thiền sư có thể nói một cách rất đơn giản để thính giả b́nh thường có thể hiểu được là, nghiên cứu về năo tạo điều kiện như thế nào cho việc hiểu về cơ chế của Thiền ?

Thiền sư Thích Thông Triệt : Nếu hiểu biết về cơ chế của năo bộ, th́ một là ḿnh thực hành mà không sợ sai lạc. Thứ hai là ḿnh đốt được thời gian, thu ngắn được thời gian. Thay v́ ḿnh phải thực hành để khắc chế vọng tưởng, hay làm cho vọng tưởng không khởi lên nữa, th́ ḿnh không cần. Ḿnh chỉ đi vào cơ chế là : không khởi niệm vọng tưởng nữa.

Trong năo bộ cần phân biệt hai vùng. Vùng phía trước và vùng phía sau. Vùng phía sau theo thuật ngữ Thiền gọi là cơ chế của « Tánh giác ». Ḿnh đi vào cơ chế này mà thực hành th́ lẹ hơn là vào cơ chế phía trước. Ở phía trước, bên năo phải là ư thức, bên trái là ư căn, ư trí năng. Bộ phận đó là thuộc về « tâm đời », tâm của người phàm phu, cứ dính mắc chuyện này, chuyện kia đó.

Chúng tôi nói rằng, cho mày nằm yên đó đi, tao đi vào ngơ này thôi. Chúng tôi « pha » (tức « bỏ qua » – tiếng địa phương Nam Bộ) cái vùng phía trước và đi thẳng vào phía sau. Phía sau là cơ chế của « Tánh giác ». Đi thẳng vào vùng phía sau th́ phải biết các đặc tính của nó, chức năng của nó là ǵ. (Cơ chế đó) là biết mà không có lời nói thầm.

Cho nên bây giờ chúng tôi hướng dẫn Thiền, chúng tôi « pha » (bỏ). Chúng tôi biết rằng chúng ta có cơ chế phía trước như vậy, mà cơ chế này nó dính mắc, do những truyền thống nó ghi sâu đậm trong tâm ḿnh, những day rứt nội tâm của ḿnh nó tiềm tàng trong đó, những đam mê của ḿnh nó tiềm tàng trong đó. Thế th́ bây giờ một lúc làm sao ḿnh gạt được những cái tâm đó được. Cho nên chúng tôi nói, thôi (cái vùng phía trước) cứ nằm yên đấy đi, chúng tôi hướng dẫn người thực hành đi thẳng vào cơ chế của « Tánh giác ».

Chúng tôi dạy học tṛ, nhưng lúc đó chúng tôi dạy nhưng chưa chứng minh được qua chụp h́nh năo bộ. Phải đợi đến năm 2006, chúng tôi mời nhờ các học tṛ của chúng tôi ở bên Đức, liên lạc với các nhà năo học ở bên Đức, hai ông Erb và Sitaram. Cho đến khi chụp h́nh năo bộ được, th́ chúng tôi mới biết cụ thể các vùng đó nằm ở đâu. Bây giờ chúng tôi hướng dẫn người thực hành Thiền đi thẳng vào cơ chế phía sau để làm sao làm yên lặng được nội tâm ḿnh, mà ḿnh không mất nhiều thời gian.

Như hôm qua, chúng tôi giảng dạy ở Poitiers, toàn là những người mới không, chưa bao giờ học Thiền. Cho họ vô, họ đi thẳng. Và họ thấy họ điều khiển được trạng thái rối bời của tâm họ. Nên chúng tôi thấy rằng, ngày nay, ḿnh thực hành Thiền không mất nhiều thời gian. Ban đầu cần phải chỉ cho họ biết các vùng cụ thể cái đă. Bởi người ta có kiến thức, nó khác hơn Việt Nam ḿnh. Tại Việt Nam, chúng tôi nghĩ rằng có nhiều người đi học Thiền không có đủ kiến thức khoa học về bộ năo.

Trong một cuốn sách, chúng tôi có viết rằng, sau này nếu được, trong một trường trung học tại Việt Nam, ở lớp 10 nên cho học tṛ học Thiền để có khái niệm, th́ thực hành dễ hơn. Lớp 10 th́ có kiến thức (…).

 

RFI : Thưa Thiền sư, vừa rồi Thiền sư có nói đến buổi giảng tại Poitiers, trong ṿng có hai ngày, người ta đă có thể có ư thức về chuyện đó rồi ?

Thiền sư Thích Thông Triệt : Người ta làm được, chứ không phải có ư thức. Người ta làm được liền.

 

RFI : Cụ thể là làm được ǵ ?

Thiền sư Thích Thông Triệt : Thí dụ chúng tôi dạy họ phương pháp thở, chỉ ở bước 1, bước 2 thôi. Những ư nghĩ trong đầu họ dừng hết tất cả. Chúng tôi hỏi, các vị có nói thầm trong đầu không ? Trả lời không có. Từ đó chúng tôi hướng dẫn họ thêm nữa. Chỉ có hai ngày thôi, chúng tôi hướng dẫn họ về lư thuyết và thực hành, họ làm được, khỏe khoắn, vui vẻ, điều chỉnh được bệnh tâm thể của họ. Thí dụ như, bệnh huyết áp, tim mạch rối loạn

.

Các bệnh cao huyết áp, cao máu mỡ và rối loạn nhịp tim

 

RFI : Thưa Thiền sư, có những bệnh ǵ, mà trong quá tŕnh Thiền sư giảng dạy, và hướng dẫn những người thực hành theo để có thể chữa được bệnh đó một cách nhanh chóng và hiệu quả?

Thiền sư Thích Thông Triệt : Bệnh tim mạch, thí dụ như cao máu (cao huyết áp), cao máu mỡ, rối loạn nhịp tim, là nhanh chóng có hiệu quả liền tức khắc. Khi hướng dẫn Thiền, chúng tôi cho họ ghi lên bệnh của ḿnh, nhưng không ghi tên của họ. Khi hết xong đưa cho chúng tôi, chúng tôi xếp loại. Ví dụ như có người bị mất ngủ kinh niên. Tôi mới giải thích, mất ngủ kinh niên là do trung tâm « giữ giờ » trong năo bộ nó bị rối loạn. Ví dụ như chúng tôi hướng dẫn một cô nh́n bóng đen để điều chỉnh trung tâm giữ giờ đó. Khi nh́n bóng đen, cái đường con mắt đi vô nó đi ngang qua hạch nhân điều chỉnh việc ngủ thức của ḿnh (tuyến tùng có hai tên gọi là "épiphyse" hay "glande pinéale"). Hạch nhân đó tiết ra chất melatonin.

 

RFI : Khi nghe Thiền sư mô tả quá tŕnh chữa bệnh như vậy, nghe Thiền sư giống như một bác sĩ tâm lư. Có câu hỏi đặt ra là, giữa phương pháp Thiền theo đạo Phật và phương pháp chữa bệnh tâm lư rất hiện đại như vậy có ǵ liên hệ với nhau cụ thể là trong trường hợp kể trên ?

Thiền sư Thích Thông Triệt : Phật dạy phương pháp nh́n ánh sáng. Ánh sáng này có thể là đèn hay nắng. Đường đi ánh sáng vô đâu ? Nh́n ánh sáng nắng th́ nó vô mắt ḿnh vào vơng mạc (rétine), đi theo các đường chéo như h́nh như cái nón đó, rồi chạy lên đụng tuyến tùng. Tuyến tùng nó mới tiết ra serotonin, hay là melatonin nữa. Từ chất đó mà nó điều chỉnh bệnh mất ngủ hay bệnh trầm cảm. Như vậy, chúng tôi kết hợp với khoa học để đối chiếu lại. À, Phật dậy trong kinh đó, bây giờ hỏi v́ sao nó điều chỉnh được ? Đó là nhờ những chất mà chúng tôi gọi là các « nước sinh hóa học ».

 

RFI : Thiền sư có thể nói về những cái bệnh mà Thiền sư nói là Thiền chữa rất là tốt, ví dụ như các bệnh về mỡ máu, hay bệnh tim mạch, … cụ thể như thế nào ?

Thiền sư Thích Thông Triệt : Phật dậy ḿnh cách thở. Khi thở vô, mũi ḿnh có hai cái que (tức là bộ phận "bulbes olfactifs" hay hành khứu giác). (Thở vô) hai cái que đụng thẳng vô khu dưới đồi của ḿnh, là Hypothalamus. Mà Hypothalamus là trung tâm tâm lư, t́nh cảm của ḿnh đó. Rối loạn cũng nó, mà an ổn cũng nó, mà thánh thiện cũng nó luôn. Bằng hít thở vô nó đụng vào hai que đó liền, bằng tín hiệu nó đụng vào vùng dưới đồi liền. Đụng vô dưới đồi làm yên lặng nội tâm. Kế bên dưới đồi có trung tâm sợ hăi và điều khiển xúc cảm của ḿnh nữa.

 

RFI : Cái vùng này tên khoa học là ǵ ?

Thiền sư Thích Thông Triệt : Amygdala. Nếu tập thở vô như vậy, nó đụng vào thần kinh đối giao cảm. Ở tận cùng của đầu dây thần kinh đối giao cảm th́ tiết ra chất acetylcholine. Mà chính cái acetylcholine có vai tṛ điều khiển tim mạch. Một mặt nữa là thần kinh đối giao cảm khi trở về đụng vào thần kinh sọ năo, th́ nó đụng vào một hệ thần kinh khác, gọi là thần kinh phế vị, mà phế vị liên hệ đến phổi với nội tạng, hay là cả gan nữa. Nhờ thế mà nó điều chỉnh lại. Thành ra ḿnh hít thở là ḿnh tác động cùng một lúc vào ba hệ thống, đó là hệ thần kinh đối giao cảm, hệ thần kinh phế vị, và cái thứ ba thông qua hệ thần kinh đối giao cảm mà nó đụng được vào acetylcholine. Acetylcholine có ở nhiều nơi lắm. Từ cuống năo cũng có, từ Dưới đồi cũng có, từ vùng thân thọ ở hai bên năo bầu cũng có nữa. (…) Nhờ như thế ḿnh mới ngừa được sốc ("strok", tức tai biến mạch máu năo), điều chỉnh được tim mạch, máu mỡ. Lư do là acetylcholine khắc chế hai chất, đó là các chất (có thể) làm ḿnh bị máu mỡ, là norepinephrine với epinephrine (hay c̣n gọi là noradrenaline và adrenaline).

 

RFI : Thiền sư nói như thế nghe như nếu ai đó có ư muốn thực hành phương pháp thiền này th́ dường như có khả năng chữa được tất cả mọi bệnh. Nghe có vẻ như trong tầm tay mà không cần phải đi bệnh viện, không cần đến hiệu thuốc ?

Thiền sư Thích Thông Triệt : Đúng vậy, nhưng không phải nó chữa được tất cả mọi bệnh đâu. Bệnh nào ra bệnh đó. Ví dụ như bệnh cần có acetylcholine, th́ thở theo lối để làm acetylcholine.

Ngày nay, từ rối loạn năo bộ nó dẫn đến nhiều bệnh khác. Ví dụ như bệnh trầm cảm, bệnh mất kư ức. Kể cả bệnh tiểu đường cũng do năo bộ rối loạn. Vấn đề thiền là để làm ǵ ? Là để điều chỉnh hệ thống hoạt động của năo bộ. Từ đó chúng tôi đưa ra phương pháp gọi là sự tương tác giữa Tâm – Pháp – Năo Bộ đối với Thân Tâm và Trí tuệ Tâm linh của con người.

 

Hiểu biết về cơ chế của bộ năo giúp người tập Thiền tránh được các sai lầm

 

RFI : Vừa rồi Thiền sư giải thích với các thính giả không biết ǵ về đạo Phật cả. Đối với những người đă đi xa hơn rồi, bắt đầu bước vào, họ muốn đi cao hơn nhưng họ c̣n lúng túng giữa các pháp môn khác nhau. Vậy Thiền sư có thể nói để riêng với những người đó được không ?

 

Thiền sư Thích Thông Triệt : Thực sự cái thiền nó khó, nhưng cũng không khó. Khó là như thế này : khó là v́ người thực hành không gặp một người đă kinh nghiệm thiền để hướng dẫn ḿnh. (Nhiều người không có kinh nghiệm) hướng dẫn theo sở ư của họ. Nếu theo như vậy, có thể mắc bệnh tâm thể. Đấy là điều khó. C̣n dễ là nếu biết được chức năng của hai vùng năo th́ ḿnh làm được hết. Ḿnh cô lập vùng phía trước hay là đi vô vùng phía sau. Nhưng nhận ra chức năng của mỗi vùng là làm được. Muốn nhận ra được chức năng của mỗi vùng, phải có người có hiểu biết về năo bộ. Ngày nay, có người biết về năo bộ (là các nhà khoa học), nhưng họ không « thực hành » được. (…)

 

RFI : Tức là họ không phải là người sử dụng các hiểu biết tâm linh để tác động vào các vùng mà họ biết về mặt giải phẫu và mặt nghiên cứu, đúng không ?

Thiền sư Thích Thông Triệt : Lấy thí dụ như trong năo bộ có một vùng rất hay gọi là vùng Wernicke (Vùng ngôn ngữ : hiểu, đọc, viết và kư ức ngôn ngữ).

 

RFI : Nó nằm ở đâu ?

Thiền sư Thích Thông Triệt : Nằm ở vùng Dưới năo, khoa học gọi là vùng Ngôn ngữ thứ nhất. Nhưng các nhà khoa học đâu có biết cách « thực hành » được vùng đó. Điều đó khó. C̣n ḿnh, « người thực hành » th́ biết, thực hành được, nhưng không biết chỗ nào để mà chỉ. Thành ra hai cái đó khác nhau.

 

RFI : Khi ḿnh biết cách sử dụng khu vực này, th́ có ư nghĩa ǵ ?

Thiền sư Thích Thông Triệt : Ḿnh biết để đi cho lẹ, thay v́ đi ḷng ṿng. Đi vùng khác th́ cũng được nhưng lâu hơn. V́ sao, v́ vùng này liên hệ đến vùng giữa năo của ḿnh nữa (vùng Gian năo). Điều quan trọng nhất là làm sao điều khiển được cuống dưới đồi.

 

RFI : Tức là vùng Wernicke điều khiển được vùng Dưới đồi ?

Thiền sư Thích Thông Triệt : Không, nó không điều khiển mà tác động vào thẳng.

 

RFI : Như vậy, những điều Thiền sư nói có phải liên quan đến một hệ thống mà Thiền sư nói trong nghiên cứu của Thiền sư với các nhà khoa học ở Đức, về hệ thống Viền năo ? Phải chăng Thiền sư muốn nhấn mạnh đến tầm quan trọng của nó trong quá tŕnh tu tập thiền ?

Thiền sư Thích Thông Triệt : Đúng vậy, trong tu thiền, hệ thống Viền năo rất quan trọng. Là v́ toàn bộ « tâm » của con người nằm trong này.

 

RFI : B́nh thường, ḿnh gọi là « tâm » hay « tinh thần », nếu mà không biết th́ không hiểu nó nằm chỗ nào trong cơ thể, nhưng nếu theo Thiền sư và các nhà khoa học cộng tác, sau khi nghiên cứu, có thể chỉ ra vị trí của nó ?

Thiền sư Thích Thông Triệt : Đúng rồi. Nếu không biết chức năng của các bộ phận trong năo bộ của ḿnh, mà cứ thực hành th́ một ngày nào đó sẽ bị bệnh tâm thể.

 

RFI : Thiền sư có thể cho một ví dụ để những người đang tập, hay quan tâm đến chuyện này có thể dễ hiểu. Tức là, khi tập thiền sai lạc th́ bị mắc những bệnh ǵ ?

Thiền sư Thích Thông Triệt : Người ta gọi là « tẩu hỏa nhập ma » đó. Thứ nhất là mắc bệnh cao máu, cao máu mỡ, tiểu đường, đó là ba thứ bệnh thông thường nhất mà ḿnh dễ gặp. Rồi lần lần nó lên nữa là bệnh trầm cảm, bệnh mất kư ức.

Do ḿnh thực hành sai lạc. Ḿnh thực hành miên mật, nhưng sai lạc. Thay v́ đừng tập trung tư tưởng vào đối tượng, th́ ḿnh cứ tập trung. Bên năo phải ḿnh sử dụng này, tập trung như vậy là ḿnh tác động vào hệ giao cảm thần kinh. Mà đầu dây của các dây thần kinh giao cảm có tiết ra một chất hóa học là norepinephrine (c̣n gọi là noradrenaline). Khi chất này được tiết ra rồi th́ nó đi theo máu, vô tuyến thượng thận, bắt đầu đến phần ruột thượng thận (phần giữa của tuyến thượng thận/glande médullosurrénale), th́ nó tiết ra epinephrine (adrenaline). Nếu hai chất này bị tiết ra măi măi, th́ một là tim mạch bị rối loạn, đường máu cao, và cuối cùng mất kư ức luôn. Do epinephrine trong tuyến thượng thận nó tiết hoài th́ tác động vào vỏ thượng thận th́ ra cortisol. Mà cortisol ra hoài th́ mất kư ức (trí nhớ). V́ chất này theo máu lên năo bó chặt tế bào năo vùng kư ức khiến chúng chết. Sự tương tác này chúng tôi gọi là tương tác dây chuyền Tâm – Pháp – Năo Bộ đối với Thân Tâm và Trí tuệ tâm linh của con người là như thế.

Điều cơ bản là acetylcholine được tiết ra th́ norepinephrine bị dẹp. (…) Khi ḿnh yên lặng được th́ hệ đối giao cảm hoạt động, các đầu dây của hệ này sẽ tiết ra acetylcholine (…) giúp cho chúng ta được cân bằng và hài ḥa. Cái thuật ngữ của Thiền gọi là hài ḥa, chính là ḿnh hài ḥa được các chất sinh hóa học trong năo bộ của ḿnh.

 

RFI : Xin cảm tạ Thiền sư đă dành thời gian quư báu của Thiền sư giúp thính giả hiểu biểt hơn về Thiền.

 

 

Bài đọc thêm