Đề pḥng phản ứng phụ của thuốc

Tác dụng phụ là các phản ứng có hại cho người bệnh khi dùng thuốc đúng liều lượng. Trước khi đưa vào sử dụng, tất cả các loại thuốc đều được thử nghiệm trên người khỏe mạnh và bệnh nhân. Tác dụng chữa bệnh sẽ được so sánh với những tác dụng có hại để có sự chỉ định hợp lư cho việc dùng thuốc.

 

Mặc dù vậy, có những phản ứng phụ không phổ biến, chỉ xảy ra ở 1-2 trên tổng số 1.000 người dùng thuốc cũng như các triệu chứng xuất hiện sau một thời gian dùng thuốc kéo dài đă không được nhắc đến trong đơn thuốc. Mặt khác, các tác dụng chữa bệnh của mỗi loại thuốc cũng thường giảm đi cùng với thời gian.

 

Một số phản ứng có hại của thuốc rất dễ được phát hiện như: dị ứng thuốc (tăng nhiệt độ, mẩn ngứa, nổi mề đay, nhức đầu, nôn mửa) hoặc shock phản vệ (ngứa toàn bộ cơ thể: nhất là ở bàn tay và bàn chân, phù ở mắt như bị bỏng nặng, phù cuống họng, khó thở, chóng mặt, tụt huyết áp và có thể ngất xỉu).                                                      Hiện tượng không dung nạp thuốc có thể xảy ra ở khoảng 25% bệnh nhân. Hệ miễn dịch không có vai tṛ trong loại phản ứng này. Đau bụng, nôn mửa, đau gân, chóng mặt, buồn ngủ, tiêu chảy có thể là biểu hiện của t́nh trạng không dung nạp thuốc. Giảm liều thuốc hoặc dùng thuốc sau bữa ăn đôi khi làm thuốc dễ dung nạp hơn.

 

Về tác dụng phụ nói chung, cần ghi nhận nhiều tác dụng phụ chỉ phát hiện sau khi thuốc được phép lưu hành và điều trị thời gian dài. Khi tác dụng phụ xuất hiện gây tác hại ở mức độ nghiêm trọng th́ thuốc mới bị cấm hoặc nhà sản xuất tự ư rút thuốc không cho lưu hành trên thị trường. C̣n tác dụng phụ xuất hiện ở tỷ lệ chỉ xem là nguy cơ th́ sẽ được thông báo (ở Mỹ, cơ quan FDA yêu cầu phải thông tin về tác dụng phụ mới được phát hiện trên bao b́, bản hướng dẫn sử dụng) để các nhà chuyên môn y dược lưu ư áp dụng biện pháp cần thiết để tránh hoặc xử lư tác dụng phụ.

 

Dưới dây là một số bài vể hội chứng do thuốc gây ra trong điều trị một số bệnh thông thường

1-Thuốc trị viêm khớp

TS Hoàng xuân Ba (bài do bạn Kim Anh giới thiệu)

Thuốc dùng trong các bệnh viêm khớp, chủ yếu là viêm khớp dạng thấp (Rheumatoid Arthritis) và viêm khớp thoái hóa (Osteoarthritis) đều có tác dụng điều trị, nhưng bên cạnh đó cũng có thể gây những ảnh hưởng xấu cho sức khỏe. Để tránh những hậu quả đáng tiếc có thể xảy ra, các bệnh nhân viêm khớp cần có sự hiểu biết nhất định về một số loại thuốc thường dùng, đồng thời hợp tác chặt chẽ với bác sĩ để kịp thời tư vấn khi cần thiết.

ới dây là một số hội chứng do thuốc diều trị các bệnh viêm khớp  

1-Ngộ độc thuốc khi điều trị các bệnh khớp có thể từ nhẹ đến nặng, phục hồi hoặc không phục hồi được. Thường những xét nghiệm lâm sàng và cận lâm sàng sẽ giúp chúng ta phát hiện sớm các biểu hiện nhiễm độc như: cao huyết áp, loét và chảy máu đường tiêu hóa, hạ đường huyết, tổn thương hoàng điểm, tổn thương gan, thận, rối loạn về chuyển hóa và nội tiết, suy tủy dẫn đến giảm các tế bào máu... Bệnh nhân phải dùng thuốc ngay lập tức khi có các biểu hiện ngộ độc trên.

 

2-Ngoài các biến chứng thông thường vừa kể, một số hội chứng không điển h́nh dưới đây cũng cần được chú ư khi điều trị viêm khớp:

 

2.1- Các biểu hiện viêm khớp gia tăng: Bệnh nhân cảm thấy đau hơn, sưng hơn cùng với cứng khớp. Cần biết rằng ban đầu có thể xuất hiện các phản ứng theo xu hướng xấu do thuốc bắt đầu tác dụng. Nếu sau một ngày, các biểu hiện này không được cải thiện và tiếp tục phát triển th́ rất có thể thuốc đă không có tác dụng, cần phải thay thế thuốc hoặc điều chỉnh lại liều dùng.

 

2.2- Tăng nhiệt độ: Nếu nhiệt độ tăng không đáng kể (dưới 38 dC), đó có thể là biểu hiện b́nh thường của phản ứng viêm khớp, nhưng nếu nhiệt độ tăng hơn nhiều (trên 38 dC), phải nghĩ đến khả năng về một bệnh nhiễm trùng. Nhiều thuốc trị viêm khớp đă làm suy giảm hệ miễn dịch cũng như giảm thiểu tuần hoàn và làm tăng một cách đáng kể nguy cơ bị các bệnh do vi trùng và siêu vi trùng. Các thuốc chính gây suy giảm hệ miễn dịch là: Methotrexate, Immuran, Remicade, Infliximab, Enbrel, Cyclosporine, Cytoxan. Phát hiện và điều trị kịp thời các biểu hiện nhiễm trùng sẽ giúp giảm bớt những biến chứng nặng nề có thể xảy ra.

 

2.3- Tê hoặc cảm giác kiến ḅ: Các phản ứng này có thể xảy ra v́ sự đè nén do phù và viêm vào các dây thần kinh. Một nguyên nhân khác là do thoái hóa dây thần kinh, do hiện tượng viêm và tổn thương mạch máu. Ngoài ra, độc tính của một số thuốc kháng viêm cũng như thuốc làm suy giảm miễn dịch có thể làm tổn hại hệ thần kinh ngoại vi và gây ra cảm giác tê hoặc kiến ḅ. Bệnh nhân cần phải thông báo ngay với bác sĩ những biểu hiện này để t́m ra nguyên nhân và điều trị kịp thời.

 

2.4-Mẩn đỏ: Rất hiếm khi do các bệnh khớp gây ra, nguyên nhân của triệu chứng này thường là do các thuốc: Solganal, Myochrysine - các thuốc có gốc vàng; (Rheumatrex, Trexall) - Methoratrexate; (Arava) - Leflueno-mide và (Plaquenill) - Hydroxychloro-quine.

 

2.5- Đỏ mắt: Có thể do nhiễm trùng mắt. Nếu kèm theo đau nhức nặng cần phải nghĩ đến bệnh viêm các mạch máu.

 

2.6- Không phân biệt được màu đỏ và xanh lá cây: Thường do Plaquenil làm tổn hại vơng mạc gây ra. Bệnh nhân phải báo với bác sĩ và dùng thuốc ngay.

 

2.7- Buồn nôn: Hầu hết các thuốc trị viêm khớp đều có thể gây nên cảm giác rất khó chịu này, đặc biệt là: Ibuprofen, Naproxen và một số thuốc kháng viêm giảm đau khác như: Azathiprine - (Immuran), Prednisolone, Methotrexate.

 

2.8- Ho và đau ngực: Viêm các khớp liên sườn có thể gây đau ngực. Tuy nhiên cũng cần được khám để loại trừ khả năng có bệnh về tim và phổi. Như đă tŕnh bày, khả năng bị nhiễm trùng đường hô hấp do tác dụng giảm miễn dịch của thuốc điều trị viêm khớp có thể xảy ra và phải được điều trị bằng kháng sinh kịp thời. Methotrexate có thể gây viêm phổi do làm tổn thương mô và mạch máu, biểu hiện đầu tiên là ho kéo dài. Các thuốc kháng viêm cũng thường gây ợ acid và đau rát ở lồng ngực.

 

Trên đây là một số dấu hiệu chính nhưng không phải hoàn toàn đầy đủ của các phản ứng do thuốc điều trị các bệnh viêm khớp có thể dẫn đến. Thuốc như con dao hai lưỡi, có thể gây ra bệnh tật, thậm chí tử vong nếu không được dùng đúng và không có bác sĩ theo dơi liên tục. Bệnh nhân cũng như thầy thuốc cần luôn cảnh giác để phát hiện và xử lư kịp thời những biến chứng để ngăn chặn các hậu quả nặng nề cũng như phải dùng thêm thuốc không cần thiết.

2- Thuốc Corticoid

Thạc sĩ Nguyên Quang Bảy (bài do bạn KimAnh giới thiệu)

Corticoid là nội tiết tố của tuyến thượng thận, có vai tṛ rất quan trọng đối với sự chuyển hóa muối, đường, mỡ và chất đạm, duy tŕ các chức năng sống của cơ thể. Ngoài ra, nó c̣n có nhiều tác dụng khác.

Người ta cũng đă sản xuất ra các chất Corticoid tổng hợp như Prednisolone, Dexamethasone, Depersolon, K-cort... để điều trị rất hiệu quả nhiều bệnh nặng như hen phế quản, viêm khớp, một số bệnh ngoài da, một số bệnh ung thư hoặc để chống thải loại tạng ghép...

 Tuy nhiên thuốc Corticoid là một ví dụ điển h́nh về con dao hai lưỡi, v́ bên cạnh mặt lợi cũng có rất nhiều tác dụng phụ nguy hiểm  như loăng xương, tăng huyết áp, tiểu đường, loét và chảy máu dạ dày, dễ bị nhiễm khuẩn... Mặt khác ngay cả khi dùng đúng chỉ dẫn của thầy thuốc th́ người bệnh vẫn có thể bị các biến chứng trên, đặc biệt trong trường hợp dùng thuốc dài ngày.

 Để pḥng ngừa và hạn chế những tác dụng phụ, tất cả những người có điều trị thuốc Corticoid nên thực hiện đúng các hướng dẫn sau đây:

1. Chỉ dùng Corticoid để điều trị bệnh khi có chỉ định của thầy thuốc và khi các biện pháp điều trị bảo tồn khác đă thất bại.

 

2. Điều trị thuốc Corticoid với liều thấp nhất và trong thời gian ngắn nhất theo yêu cầu điều trị đủ có tác dụng. Dùng các thuốc thay thế khác ngay khi có thể. Ưu tiên sử dụng các cách dùng thuốc ít tác dụng phụ nhất mà vẫn đạt hiệu quả như bôi ngoài da, hoặc các bệnh nhân hen phế quản phụ thuộc Corticoid có thể dùng đường hít mũi.

 

3. Trước khi điều trị nên chụp X-quang phổi để loại trừ bệnh lao phổi v́ Corticoid làm nặng thêm bệnh lao phổi. Nếu đang điều trị Corticoid mà thấy có triệu chứng của bệnh phổi th́ phải chụp X-quang lại ngay.

 

4. Trước khi bắt đầu và trong suốt thời gian điều trị Corticoid, mỗi lần đi khám cần kiểm tra xem có bị tiều dường hoặc tăng huyết áp không?

 

5. Khám xem có mắc bệnh t ăng áp nhăn hoặc đục thủy tinh thể ở các thời điểm trước điều trị, sau điều trị 3 tháng và ít nhất là 1 lần mỗi năm sau đó.

 

6. Bản thân người bệnh và gia đ́nh nên biết rằng Corticoid có thể gây rối loạn tâm thần, v́ vậy cần thông báo ngay cho thầy thuốc biết nếu họ có những thay đổi về hành vi, nhận thức hoặc trí nhớ.

 

7. Người dùng Corticoid tránh nằm hoặc ngồi tại chỗ quá lâu v́ nó làm yếu cơ nhiều hơn và làm loăng xương nặng thêm. Với những người bị găy xương th́ sau khi được điều trị nên sớm tập vận động trở lại.

 

8. Để đề pḥng loăng xương, nên uống thêm khoảng 1g calci mỗi ngày và có thể uống thêm vitamin D. Bạn cũng nên kiểm tra định kỳ 6 tháng 1 lần xem có bị loăng xương không, mức độ thế nào bằng cách đo tỷ trọng xương tại bệnh viện.

 

9. Một số người bị suy sinh dục, cần thông báo cho thầy thuốc để được điều trị.

 

10. Tránh các hoạt động hoặc các động tác có nguy cơ bị ngă hay bị chấn thương v́ dễ gây găy xương, dễ bị chảy máu và vết thương sẽ lâu liền hơn b́nh thường rất nhiều...

 

11. Tránh hoặc tạm hoăn phẫu thuật nếu có thể. Trường hợp vết thương hoặc vết mổ của bạn lâu liền, uống thêm vitamin A 20.000 đơn vị mỗi ngày trong khoảng 1 tuần sẽ giúp vết thương liền nhanh hơn.

 

12. Đề pḥng bị loét dạ dày bằng cách uống thuốc cùng hoặc ngay sau các bữa ăn. Một số thuốc có khả năng dự pḥng loét dạ dày do Corticoid là Sucralfate 1g, uống trước bữa ăn 1 giờ và trước khi đi ngủ, hoặc Ranitidine, Losec... Các thuốc chứa oxid nhôm như Maalox chỉ nên dùng với liều vừa phải.

 

13. Nếu bạn có dấu hiệu bị nhiễm trùng th́ phải được điều trị tích cực ngay lập tức. Cần thông báo ngay cho thầy thuốc nếu thấy biểu hiện của nhiễm trùng nặng v́ rất có thể bạn đă bị tấn công bởi loại vi khuẩn bất thường.

 

14. Theo dơi cân nặng hàng ngày. Nên áp dụng chế độ ăn kiêng để tránh béo ph́ hoặc tăng cân nhanh.

 

15. Với trẻ em, phải đo chiều cao thường xuyên để phát hiện sớm những trường hợp trẻ bị chậm lớn. C̣n với người lớn th́ giảm dần chiều cao có thể là dấu hiệu của lún xẹp cột sống.

 

16. Nếu đang điều trị mà thấy bị phù th́ phải báo ngay cho thầy thuốc để được điều trị.

 

17. Người dùng Corticoid hay có rối loạn Kali máu, thường là hạ Kali máu, nên phải được xét nghiệm kiểm tra định kỳ.

 

18. Khi bắt đầu giảm liều, cần chú ư các dấu hiệu có thể là do suy thượng thận như mệt, buồn nôn, rối loạn tiêu hóa, tụt huyết áp, thậm chí là có cơn choáng, hôn mê... Khi đó nên đến bệnh viện sớm, hoặc dùng lại liều như cũ hay dùng loại Corticoid tiêm.

 

19. Không bao giờ được tự ngừng thuốc Corticoid đột ngột, nhất là những trường hợp đang dùng liều cao hoặc đă dùng thuốc trong thời gian dài v́ có nguy cơ rất cao gây suy thượng thận cấp nặng, dễ dẫn đến tử vong nếu không được cấp cứu kịp thời.

 

3- Thuốc trị tiểu đường

Cho đến nay, bệnh tiểu dường vẫn là bệnh chưa thể chữa khỏi hoàn toàn. Chính v́ vậy con người vẫn đang cố gắng để t́m ra nhiều loại thuốc mới nhằm điều trị bệnh này hiệu quả hơn.

Hiện nay trên thị trường đang có rất nhiều loại thuốc điều trị bệnh tiều dường khác nhau và ngay một loại thuốc cũng có thể có rất nhiều tên thương mại khác nhau. V́ vậy chúng ta cần hiểu biết rơ tác dụng cũng như cách dùng của mỗi loại thuốc đ hạn chế các tác dụng phụ của chúng

Insulin

Tính theo thời gian tác dụng (thời gian bắt đầu có tác dụng, thời gian có tác dụng tối đa và thời gian hết tác dụng), có 3 loại insulin thường được dùng hiện nay là insulin nhanh, insulin bán chậm và insulin hỗn hợp (hay insulin mixtard gồm 2 loại nhanh và bán chậm được trộn theo những tỉ lệ nhất định). Lọai insulin nhanh thường trong suốt c̣n các loại insulin khác th́ có màu đục. Ngoài những bệnh nhân tiều dường loại 1, tiêm insulin c̣n được chỉ định cho các bệnh nhân tiều dường loai 2 khi đă thất bại (không đáp ứng) với các thuốc uống hạ đường máu, khi đường máu tăng quá cao, bị hôn mê hoặc trong các trường hợp đặc biệt như bị nhiễm trùng nặng, bị tai biến mạch năo hoặc bị suy gan, suy thận…

Các thuốc uống điều trị tiểu dường loại 2:

Có nhiều nhóm thuốc uống để điều trị bệnh tiều dư ờng loại 2, mỗi nhóm có cơ chế tác dụng khác nhau.

Metformin:

- Metformin được coi là thuốc điều trị đầu tay cho những bệnh tiểu duởng loại 2 có béo ph́ hoặc thừa cân do có tác dụng chính lên sự đề kháng insulin. Metformin có ưu điểm nổi bật là không làm tăng cân và cũng không gây hạ đường máu quá thấp. Các tác dụng phụ của thuốc có thể là gây đầy bụng, buồn nôn, tiêu chảy…

Nên uống các thuốc metformin ngay sau bữa ăn. Không dùng metformin khi có suy thận, suy gan, suy hô hấp. Phải thận trọng khi dùng cho những bệnh nhân lớn tuổi.

Các thuốc nhóm sulfonylurea…

- Nhóm sulfonylurea là những thuốc điều trị bệnh tiểu d ư ờng lo ại 2 được dùng phổ biến nhất, nó có tác dụng chính là kích thích tụy tăng tiết insulin. Tác dụng phụ của thuốc có thể là gây tăng cân tuy không nhiều (1-2kg) và hạ đường máu quá thấp (hay gặp khi dùng chlopropamid và glibenclamid) nhất là ở những b ệnh nhân cao tuổi,có bệnh gan hoặc thận. Nhóm thuốc này thường phải dùng 2-3 lần mỗi ngày, uống vào trước bữa ăn.

Các thiazolidinediones (TZD)

Các thuốc TZD có tác dụng làm tăng tác dụng của insulin tại các mô trong cơ thể nhưng không làm tăng tiết insulin. Ngoài ra nó c̣n có tác dụng làm giảm rối loạn mỡ máu.

Điều trị TZD thường gây tăng cân (khoảng 2-4kg/24 tháng), chủ yếu do làm tăng tích trữ mỡ dưới da, và một phần do giữ nước. V́ vậy cần thận trọng khi điều trị TZD cho các b ệnh nh ân bị suy tim hoặc có bệnh tim, viêm gan hoặc có men gan tăng cao.

Acarbose

Tăng đường máu sau bữa ăn khá phổ biến ở các bệnh tiểu đường loại  2. Men alpha-glucosidase có vai tṛ quan trọng trong việc tiêu hoá và hấp thu thức ăn. Acarbose ức chế men alpha-glucosidase nên sẽ làm chậm quá tŕnh hấp thu carbonhydrat ở đường tiêu hoá, nhờ đó làm giảm mức độ tăng đường máu sau bữa ăn. Acarbose có thể được dùng riêng lẻ cùng chế độ ăn kiêng hoặc dùng phối hợp với sulfonylurea, metformin hoặc insulin.

Tác dụng phụ của acarbose là gây đầy hơi và sôi bụng, đôi khi đau bụng và tiêu chảy. Để khắc phục nên uống thuốc vào giữa bữa ăn, bắt đầu bằng liều thấp và tăng liều từ từ.

4-                         4- Tác dụng phụ của thuốc hạ huyết áp

Thuốc trị cao huyết áp không những làm thay đổi chức năng cơ thể mà c̣n làm ảnh hưởng đến hệ thống thần kinh, các cơ quan nội tạng, nhất là thận.

 

 


Chẳng hạn một nhóm thuốc dùng phổ biến trong điều trị cao huyết áp là chẹn beta (beta blockers) gồm có propranolol, pindolol, nadolol, timolol, metoprolol, atenolol… Cơ chế của nhóm  thuốc này là ức chế thụ thể beta giao cảm ở tim, mạch ngoại vi, do đó làm chậm nhịp tim và hạ huyết áp. Thuốc dùng cho bệnh nhân có kèm đau thắt ngực hoặc nhức nửa đầu. Chống chỉ định đối với người có kèm hen suyễn, suy tim, nhịp tim chậm. Tuy nhiên sử dụng lâu dài sẽ làm giảm năng lực hoạt động của bệnh nhân.

Một loại thuốc hạ huyết áp nữa là nhóm thuốc ức chế men chuyển hóa angiotensin (ACE inhibitor – Angiotensin converting enzyme inhibitor). Nhóm thuốc này làm giảm huyết áp bằng cách làm giảm sự hoạt động của một số chất hóa học trong máu vốn làm căng thành mạch máu. Một loại thuốc thuộc nhóm này là Lisinopril có tác dụng phụ gây kích động, ho, choáng váng, mệt mỏi, đôi khi gây tăng nhịp tim hoặc gây ra nhịp tim bất thường.


Nhóm thuốc lợi tiểu gồm có hydroclorothiazid, indapamid, furosemid, sprironolacton, amilorid, triamteren… Cơ chế của thuốc là làm giảm sự ứ nước trong cơ thể, tức làm giảm sức cản của mạch ngoại vi đưa đến làm hạ huyết áp. Dùng đơn độc khi bị cao huyết áp nhẹ, dùng phối hợp với thuốc khác khi bệnh cao huyết áp nặng thêm. Cần có sự lựa chọn do có loại làm thải nhiều kali, loại giữ kali, tăng acid uric trong máu, tăng cholesterol máu.


Thêm một nhóm thuốc khác trị cao huyết áp là nhóm thuốc ức chế kênh calcium. Loại thuốc này dùng để giảm nhịp tim, tuy nhiên cũng gây nhức đầu, buồn nôn, táo bón, giữ nước cơ thể.


C̣n đối với nhóm chẹn alpha (alpha blockers) Gồm có prazosin, alfuzosin, terazosin, phentolamin,… cơ chế của thuốc là ức chế sự giải phóng noradrenalin tại đầu dây thần kinh là chất sinh học làm tăng huyết áp, do đó làm hạ huyết áp tuy nhiên có thể gây nhức đầu, tim đập nhanh, làm tăng nồng độ cholesterol trong máu, nếu sử dụng lâu có thể gây suy tim.


Một nhóm thuốc khác là thuốc giăn mạch (vasodilators) có tác dụng phụ gây sung huyết mũi, đau ngực, tim đập nhanh, sử dụng lâu ngày có thể gây tổn hại mô liên kết gây nên bệnh lupus.


Tóm lại, điều trị cao huyết áp là một công việc vô cùng khó khăn, muốn sử dụng thuốc một cách an toàn người bệnh cần đi khám và được bác sĩ điều trị kê đơn và hướng dẫn sử dụng thuốc. Bác sĩ là người nắm vững tính năng các thuốc, khám bệnh trực tiếp sẽ lựa chọn thuốc thích hợp và hướng dẫn thực hiện các nguyên tắc dùng thuốc. Sự lựa chọn thuốc trị cao huyết áp sẽ tùy thuộc vào các yếu tố nguy cơ của bệnh tim mạch, có sự tổn thương các cơ quan (như suy thận, suy tim, dày thất trái,…), có kèm bị bệnh tiểu đường hay không để có đơn thuốc thích hợp.

 

(theo Yhoccotruyen.vn)

5- Thuốc hạ mỡ máu

Thuốc trị rối loạn lipid huyết có tác dụng giúp cho các chất béo (thường gọi là mỡ) có trong máu như cholesterol toàn phần, LDL-cholesterol, HDL-cholesterol, triglycerid trở lại giới hạn b́nh thường.

Có nhiều nhóm thuốc hạ lipid huyết như nhóm resin gắn axít mật (thí dụ cholestyramin), nhóm fibrat (clofibrate, fenofibrat, gemfibrozil), niacin (tức vitamin PP) nhóm statin và thuốc mới là ezetimib.

Thuốc được dùng phổ biến hiện nay chính là nhóm statin (tên thuốc có vần cuối là statin) gồm có: simvastatin (biệt dược Zocor), lovastatin (Mevacor), pravastatin (Pravachol), fluvastatin (Lescol), atorvastatin (Lipitor), rosuvastatin (Crestor).



Các statin c̣n được gọi là nhóm thuốc ức chế men khử HMG-CoA v́ cơ chế tác dụng của thuốc là ức chế cạnh tranh men 3-hydroxy-3 metyl-glutaryl coenzym A reductase (viết tắt HMG-CoA reductase). Men khử HMG-CoA bị thuốc ức chế không xúc tác phản ứng tạo ra
cholesterol ở gan sẽ làm giảm cholesterol trong máu xuống. Các statin c̣n có tác dụng làm tăng số lượng thụ thể của LDL-cholesterol (viết tắt LDL-c, c̣n gọi là cholesterol “xấu”) nhằm tăng sự thoái hoá và làm giảm cholesterol “xấu” này xuống mức mong muốn. Các statin cũng làm tăng một ít HDL-cholesterol (HDL-c, c̣n gọi là cholesterol “tốt”).

Trong trường hợp rối loạn lipid huyết nhẹ nhưng không có bệnh mạch vành, tiểu đường, tăng huyết áp, không hút thuốc, chỉ bắt đầu dùng thuốc statin khi đă thực hiện chế độ ăn kiêng, vận động khoảng sáu tháng mà chưa giảm lipid huyết đến mức mong muốn. Khi đang dùng thuốc statin cũng vẫn duy tŕ nghiêm túc việc ăn kiêng và vận động (nếu thừa cân cố giảm), cần kiêng mỡ động vật và thực phẩm nhiều cholesterol, ăn nhiều rau cải, trái cây, chất xơ sợi và đủ đạm, c̣n tập thể dục đă được chứng minh là làm tăng cholesterol “tốt”.


Khi sử dụng các statin, tác dụng phụ có hại đáng lưu ư nhất là tác dụng phụ “tiêu cơ vân” (rhabdomyolysis). Đây là bệnh lư có thể gây chết người do các tế bào cơ vân bị phân huỷ, giải phóng các chất có bên trong tế bào, trong đó có myoglobin, đưa đến tiểu tiện ra myoglobin và chính chất này làm nghẽn thận dẫn đến suy thận. Dấu hiệu ban đầu của chứng này là bắp thịt bị đau nhức, yếu cơ, co cơ (thường gặp ở cơ bắp chân, cơ lưng), sau đó nước tiểu màu đỏ đậm do thải myglobin (người dùng thuốc cần lưu ư các dấu hiệu để ngừng thuốc và đến gặp bác sĩ ngay). Cũng v́ gây tác dụng phụ trầm trọng (đặc biệt khi phối hợp với một thuốc fibrat là gemfibrozil) mà một statin là cerivastatin (Baycol, Lipobay) đă bị cấm lưu hành.

Tác dụng phụ làm viêm gân, tổn thương gân gót (gân Achiless) do dùng thuốc nhóm statin chỉ mới được công bố thông qua một nghiên cứu tiến hành ở đại học Rouen (Pháp). Nghiên cứu này dựa vào việc hồi cứu dữ liệu tác dụng phụ của 4.597 bệnh nhân đă dùng statin và ghi nhận 92 bệnh nhân có tác dụng phụ vừa kể (tức chỉ 2%). Theo nghiên cứu, 57% trong số 92 bệnh nhân bị tác phụ, được ghi nhận bị tổn thương gân trong ṿng một năm sau khi dùng statin (63% c̣n lại bị tổn thương gân hơn một năm sau khi dùng thuốc). Như vậy, chỉ có một số ít người bị tác dụng phụ và thời gian dùng thuốc phải kéo dài cả năm trở lên (ngưng dùng thuốc th́ tác dụng phụ biến mất).

Ngoài ra Cơ quan Quản lư Dược phẩm và Thực phẩm Mỹ (FDA) vừa đưa ra cảnh báo vào th áng 3/2012  về những tác dụng phụ có thể gặp như ảnh hưởng đến trí nhớ (mất trí nhớ, nhầm lẫn), tăng đường huyết , tiểu dường loại 2 của thuốc hạ mỡ máu thuộc nhóm statin.

Do các tác dụng phụ vừa kể hiếm xảy ra, người sử dụng thuốc vẫn có thể an tâm dùng các thuốc statin khi được bác sĩ chỉ định.

(tintuccaonien.com tổng hợp)

Bài dọc thêm

Những tác dụng phụ có hại của thuốc kháng sinh

Thực phẩm kị thuốc 

Không uống thuốc với nước trái cây

 

Nước ép trái cây ảnh hưởng ra sao trên thuốc men